Ưu nhược điểm của hầm bioga bằng nhựa composite

Ưu nhược điểm của hầm bioga bằng nhựa composite

Để phụ vụ cho ngành nông nghiệp ngày nay con người biết đã ứng dụng và đem vào sản xuất nhiều phương tiện thiết thực và thiết bị quan trọng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh như: như bể phốt composite ,vỏ động cơ tên lửa, vỏ tàu thủy vỏ tên lửa, máy bay, tàu vũ trụ, bình chịu áp lực cao, tầu cao tốc, ống dẫn dầu…và cả hầm Biogas.

SẢN XUẤT HẦM BIOGA BẰNG NHỰA COMPOSITE

Sản phẩm Composit là nguyên liệu nhựa dạng sợi tổng hợp với các thành phần: nhựa, phụ gia (bột màu,bột đá) tăng độ cứng của nhựa, sợi thủy tinh, màng phim hoặc sợi Carbon tạo sự liên kết bền vững…. nhìn chung đây là loại vật liệu Composit: nhẹ,dẻo, dễ làm, thi công lắp đặt, chịu áp lực cao, không bị ảnh hưởng biến dạng khi bị tác động trong và ngoại lực, không tích điện, trơ với các loại hóa chất như Axit…và có thể tạo ra những hình dạng theo ý muốn.

Bể hay hầm Biogas bằng nguyên liệu nhựa Composite

Từ rất nhiều năm qua công nghệ sử dụng hầm bioga thay cho bê tông, từ các dự án xây dựng hầm biogas xử lý chất thải trong nông nghiệp, trong chăn nuôi của Sở tài nguyên môi trường,nông nghiệp và Phát triển nông thôn mang lại kết quả khả quan, nhu cầu phát triển hầm Biogas trong chăn nuôi sử dụng rất nhiều, một số công ty, cá nhân đã đưa hầm Biogas bằng vật liệu Composite trưng bày và lắp đặt trên địa bàn các tỉnh nam trung bộ. Để người dân nắm bắt được những đặc tính từ hầm biogas bằng tấm nhựa Composite, chúng tôi xin đưa ra những ưu điểm và nhược điểm của nó trước khi có quyết định thi công lắp đặt.

Ưu điểm

– Có độ bền cao chịu được tác động cơ học và áp lực cao: Vì vậy có thể lắp đặt ở nhiều nơi, điều hoặc những vùng đất, đất cứng kể cả vùng đá sỏi mà không bị dập, vỡ.

– Không ảnh hưởng bởi môi trường hóa học hay điều kiện môi trường: vì vậy có thể dùng ở vùng nhiễm mặm, đất phèn chua, axit hoặc những vùng có hóa chất khác, không bị lão hóa dưới tác động của mưa, nắng như các loại vật liệu khác.

– Bể hầm biogas bằng nhựa Composit nhẹ, có thể vận chuyển, thay đổi vị trí lắp đặt khi cần nhất là những nơi nằm trong vùng qui hoạch mà những loại hầm xây dựng bằng các nguyên liệu nhựa khác không thể thực hiện được.

– Thíc hợp cho chăn nuôi mô hình nhỏ lẻ, số lượng gia súc nuôi ít.

Xem thêm: tấm nhựa lấy sáng

Nhược điểm

a/ Chất lượng chỉ mang tính tương đối

– Hiện nay, nước ta chưa có bộ tiêu chuẩn chất lượng Quốc gia về hầm Biogas bằng vật liệu Composit ( chỉ có tiêu chuẩn quốc gia từng loại nguyên, vật liệu nhựa). Trong khi tại Việt nam có rất nhiều Công ty sản xuất hầm bể Biogas bằng nhựa Composite, nhưng hầu hết các Công ty đều không công bố tiêu chuẩn chất lượng cơ sở. Đồng thời chúng ta cũng chưa có cơ quan quản lý chất lượng, vì vậy chất lượng hầm biogas bằng vật liệu Composit ở mỗi công ty sản xuất đều khác nhau. Chủ yếu họ sản xuất, kinh doanh nhằm thu lợi nhuận mà ít chú ý đến chất lượng. ( Có 2-3 công ty được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ra Quyết định công bố cải tiến kỹ thuật).

Nhìn chung, trong thời gian qua tại tỉnh Bến Tre, khi lắp đạt hầm bể biogas bằng nhựa Composite đã bị dập, vỡ dù được đạt trên nền đất cát, đất sình lầy.

– Hầu hết hầm biogas bằng vật liệu Composite bị rò rỉ gas: Theo nguồn tin từ Trung tâm nghiên cứu Khí sinh học Tây nguyên, có tới 65% số hầm bể biogas bằng vật liệu Composite bị rò rỉ gas. Nguyên nhân chủ yếu do công nhân làm ẩu, nhựa không ngấm vào sợi vải hoặc có bọt khí, do vậy khi áp suất gas tăng lên, gas sẽ luồn theo các nơi này thoát ra ngoài. Đây là những trường hợp rò rỉ khó xử lý hàn vá do vết rò rỉ theo sợi carbon kéo dài. Chính vì vậy, sản lượng gas từ biogas bằng vật liệu Composit không cao.

b/ Bình có dung tích nhỏ

– Bể hầm có dung tích chứa chất thải nhỏ, tổng diện tích của hầm theo các công ty sản xuất chỉ có 3 cỡ: (Hiện tại chưa có công ty nào sản xuất được cỡ hầm lớn hơn). Thông số kỹ thuật của từng cỡ hầm như sau:

+ Loại 1 cỡ 4m3 có đường kính là 1,9 m,

+ Loại 2 cỡ 7m3 có đường kính là 2,25 m,

+ Loại 3 cỡ 9m3 có đường kính là 2,45m.(CT Môi trường xanh có cỡ ĐK 2,40m)

Và cỡ hầm lớn nhất là 9m3 thì thông số kỹ thuật được xác định như sau:

– Thể tích toàn hầm: 9m3

– Đường kính hầm (MAX) : 2,45m

– Thể tích chứa chất thải tối đa (MAX) là: 8,72 m3

– Thể tích chứa chất thải tối thiểu (MIN) là: 5,5 m3 (Lúc nhiều gas nhất)

– Thể tích chứa gas tối đa (MAX) là: 3,2 m3 (lúc chứa nhiều gas nhất)

– Thể tích chứa gas tối thiểu (MIN) là: 0m3 (lúc nạp ban đầu chưa có gas)

– Thể tích chết (vỏ hầm) là: 0,28m3

Nghiên cứu trong điều kiện chăn nuôi ở Bến Tre với loại hầm lớn nhất (9m3) có thể xử lý chất thải được số lượng bao nhiêu gia súc, gia cầm, trên cơ sở khoa học, chúng tôi tính toán như sau:

– Sử lý Chất thải (phân, nước tiểu) là 7%/ngày so với trọng lượng cơ thể, như vậy với 1 con heo 100kg, một ngày sẽ thải ra 7 kg chất thải (bao gồm 3 kg phân và 4 kg nước tiểu).

– Tất cả các hộ dân chăn nuôi tại Bến Tre đều sử dụng máy bơm nước để tắm và rửa trang trại, thậm chí có hộ còn dùng các loại máy có công suất mạnh, ống lớn để làm cho nhanh, rút ngắn thời gian, vô tình đã sử dụng lượng nước quá lớn gấp rất nhiều lần so với lượng chất thải từ heo thải ra. Nếu chỉ tính lượng nước gấp 2 lần lượng chất thải từ heo thì mỗi ngày một con heo phải sử dụng 10 lít nước pha trộn với chất thải từ heo và tổng chất thải và nước sẽ tương đương 15 kg/ngày/con.

– Sử lý chất thải vào hầm biogas được phân hủy hoàn toàn sau khi ra môi trường không còn ảnh hưởng, trong điều kiện nhiệt độ trên 200c như ở Bến Tre phải mất ít nhất 20 ngày.

Như vậy, chúng ta có thể làm phép tính như sau: (hầm 9 m3 có thể tích chứa chất thải thường xuyên 5,5 m3tương đương 5.500 kg)

5.500 kg : 15 kg/con/ngày : 20 ngày = 18 con heo (100 kg/con)

Nhìn chung tính heo bình quân 50-60 kg/con thì tối đa chỉ có thể xử lý chất thải cho 30 con. Trong khi đó, theo quảng cáo của các công ty thì hầm biogas 9 m3 xử lý chất thải cho 60 con heo là không thể được, bị quá tải và như vậy chất thải sau hầm sẽ ra gây ô nhiễm nặng hơn là thải phân tươi ra môi trường.

c/ Ống nhỏ hay bị tắc ống dẫn

Sản xuất do cấu trúc hầm đúc sẵn bằng vật liệu nhựa Composite, người ta đúc và lắp đạt 2 ống lối vào và lối ra thường cao hơn đỉnh bể phân giải 50cm vừa tạo nơi đưa chất thải vào và ra khỏi hầm, vừa để điều tiết áp suất của gas. Cho chất thải ban đầu ( hay gọi là dịch lỏng gồm nước và phân), theo nguyên tắc để tạo độ kín, gas không thoát ra ngoài thì lượng chất thải phải ngập kín miệng đáy của ống lối vào và lối ra (tương đượng bằng nửa độ cao của ống). Như vậy lượng dịch lỏng sẽ cao hơn đỉnh bể phân giải. Và theo nguyên tắc “bình thông nhau” thì dịch lỏng sẽ đẩy lên ống thu gas. Khi gas hình thành tạo áp xuất dịch lỏng sẽ bị đẩy lên theo đường ống và làm tắc ống. Hoặc khi đang vận hành, nếu người sử dụng không chú ý dùng hết gas, bắt buộc dịch lỏng vào ống thu gas, làm tắc ống dẫn gas, sẽ không có gas để dùng và làm hư hỏng bếp cũng như các thiết bị sử dụng gas. Mỗi lần như vậy người dân phải cắt và thông ống dẫn gas, gây nhiều phiền hà trong quá trình sử dụng.

Theo tamnhualaysang.vn